IFP Vietnam Alumni

Huy động và kết nối nội lực để tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững của cộng đồng.

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Home Công trình nghiên cứu và Báo cáo công bố BÁO CÁO KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN ĐỊNH HƯỚNG DI CHUYỂN TẠI CÁC TRƯỜNG KHIẾM THỊ THÀNH PHỐ H

BÁO CÁO KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN ĐỊNH HƯỚNG DI CHUYỂN TẠI CÁC TRƯỜNG KHIẾM THỊ THÀNH PHỐ H

Email In PDF.

BÁO CÁO KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN ĐỊNH HƯỚNG DI CHUYỂN TẠI CÁC TRƯỜNG KHIẾM THỊ THÀNH PHỐ HỒ CHÍNH MINH VÀ CÁC TỈNH LÂN CẬN

 

Công Bố Số Liệu

Tác giả, với tất cả cố gắng của mình đảm bảo độ chính xác và đáng tin cậy của các thông tin trong tài liệu nầy.

Chúng tôi không đưa ra hay bảo đảm về độ chính xác tuyết đối, bền vững cho bất kỳ mục đích được thể hiện hay ám chỉ thông tin trong tài liệu này. Bạn có chịu trách nhiệm toàn bộ trong việc sử dụng các thông tin, hiểu hoặc cũng như không đồng ‎ý với tác giả và các nhân viên của Chương trình khuyết tật và phát triển về trách nhiệm và sự tin cậy qua việc công bố, thất thoát và trong quá trình sử dụng.

 

 

Hơn nữa, quan điểm và ý kiến của tác giả được thể hiện ở đây không phản ảnh ý kiến và quan điểm của DRD và bất kỳ nhân viên nào của mình.

Trích Dẫn

Việc thu thập và giới thiệu các dữ liệu của Th.S Lê Dân Bạch Việt và DRD nên được nhận như một phương tiên nguồn để làm trích dẫn tiêu chuẩn có sự tôn trọng tác quyền được sử dụng cho các nghiên cứu xã hội học trong tương lai. Nguồn trích dẫn tiêu chuẩn phải được ghi đầy đủ trong phần tài liệu tham khảo khi xuất bản. Mọi thông tin xin vui lòng tiếp xúc với Lê Dân Bạch Việt tại địa chỉ email Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. hay qua điện thoại 0909-281961

(Th.S Lê Dân Bạch Việt)

Giới Thiệu

Định hướng di chuyển (ĐHDC) là môn học hết sức quan trọng đối với người khiếm thị, vì nó không chỉ giúp người khiếm thị di chuyển và đi lại hiệu quả, an toàn mà còn góp phần quan trọng trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày khác. ĐHDC đã được đưa vào Việt nam từ năm 1967 nhưng chưa được cập nhật thích hợp. Những năm gần đây, nhờ có những lớp đào tạo ngắn ngày, môn ĐHDC đã được quan tâm hơn.

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khảo sát độc lập nào dù nhỏ để nhìn lại thực trạng của việc dạy, và quan trọng hơn là lắng nghe ý kiến của những người trực tiếp sử dụng nó xem môn ĐHDC đã được áp dụng ở trường có đáp ứng với yêu cầu thực tế chưa, và để người dạy và người học lắng nghe ý kiến của nhau để hiểu và phát triển môn học một cách thực tế hơn.

Vì những mục đích trên, Chương trình khuyết tật và phát triển Việt Nam (DRD Vietnam) đã tài trợ một cuộc khảo sát độc lập nhỏ với những mục tiêu như sau:
- Tìm hiểu tình hình về việc dạy ĐHDC của giáo viên 
- Tìm hiểu tình hình ứng dụng môn ĐHDC trong cuộc sống của học sinh lớn và cựu học sinh khiếm thị.
- Tìm hiểu nhu cầu thiết lập mạng lưới giáo viên và người khiếm thị trong Định hướng di chuyển.
- Tìm hiểu nhu cầu của người dạy, người đã học và đang sử dụng kỹ thuật Định hướng di chuyển.
- Đề xuất các giải pháp trong tầm khả thi trong việc đào tạo nâng cao trình độ giáo viên Định hướng di chuyển hiện tại để đáp ứng nhu cầu của người khiếm thị và cập nhật kiến thức cho giáo viên ĐHDC, trước mắt là tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

Đối tượng cung cấp thông tin cho khảo sát:

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 17 giáo viên tại các trường mù và trường khuyết tật, 2 giảng viên dạy ĐHDC và 28 học sinh trên đại bàn TP Hồ Chính Minh và 3 tỉnh lân cận là Đồng Nai, Long An, Tây Ninh 
Tại TP HCM: Giáo viên và học sinh tại các trường: Nguyễn Đình Chiểu, mái ấm Thiên Ân, Trung tâm Khiếm thị Nhật Hồng, mái ấm Huynh đệ Như nghĩa, Đại học Sư phạm TP.HCM, Cao đẳng Sư phạm trung ương TP.HCM. Ba trường tại các tỉnh lân cận cận là trường Khuyết tật Đồng Nai, Tây Ninh và Long An.
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 17 giáo viên đã được tập huấn qua môn ĐHDC. Trong đó có 11 giáo viên dạy ĐHDC (chỉ có 3 trường có giáo viên chuyên trách môn, các trường còn lại lại ngoài ĐHDC, giáo viên phải dạy các môn hoàn toàn khác như vi tính, mỹ thuật), 2 người dạy ĐHDC và môn sinh hoạt hàng ngày hoặc giáo dục thể chất, 2 người làm quản lý, 2 giảng viên môn ĐHDC ở các trường cao đẳng và đại học.
Trong số 28 học sinh khiếm thị, có 9 em là sinh viên hoặc cựu sinh viên, 11 học sinh phổ thông trung học, và 8 em là học sinh phổ thông cơ sở.

Phương pháp khảo sát:

Thu thập thong tin sơ cấp qya phỏng vấn trực tiếp với 2 bộ câu hỏi bán cấu trúc dành cho 2 đối tượng khác nhau, quan sát, dự giờ lớp học, nghiên cứu trường hợp. Thông tin thứ cấp bao gồm các tài liệu giảng dạy và ký luận ĐHDC tại Việt nam và trên thế giới. dự giờ với mẫu hướng dẫn

Thông tin thu thập vào tháng 12/ 2009 và tháng 1/2010, sau đó được tổng hợp và phân tích bởi chuyên gia ĐHDC, kết hợp với thảo luận nhóm khảo sát để tìm ra những phát hiện ban đầu. Tiếp đó, vào tháng 4/2010, một hội thảo được nhóm khảo sát tổ chức cùng với các đối tượng thu thập thông tin phản hồi trên cùng nhiều giáo viên, học sinh và các bên liên quan để thảo luận và thống nhất về những phát hiện của khảo sát. Sau hội thảo này, bản báo cáo khảo sát cuối cùng đã được hoàn thiện.

Những phát hiện chính

Bốn phát hiện chính của cuộc khảo sát là về tình hình đào tạo giáo viên nguồn của môn định hướng di chuyển; tình hình xây dựng giáo trình dạy và học; tình hình đánh giá trước và sau huấn luyện, và tình hình trao đổi giữa giáo viên và học sinh được huấn luyện. Cụ thể như sau:

I/ Tình hình đào tạo giảng viên nguồn: chưa đồng bộ, chưa có hệ thống và thiếu một cơ sở lý luận khoa học cho môn ĐHDC ứng dụng tại Việt Nam. 
1.1 Về đào tạo: Chỉ khoảng 30% giáo viên học đủ khóa 6 tuần do giảng viên Shri Lanka hướng dẫn (trong 3 năm, mõi năm 2 tuần), số còn lại chỉ học 15 hay 2 hay 4 tuần. Một số ít giáo viên được qua học phần 45 tiết tại khoa Giáo dục đặc biệt (học cả lớp) rồi tự tìm hiểu thêm qua đồng nghiệp và thực tế. Riêng một số giáo viên của một trường được giảng viên từ trường mù Pherkins Hoa Kỳ hướng dẫn về ĐHDC trong cho trẻ mầm non đa tật trong chương trình Can thiệp sớm. Duy nhất 1 giáo viên được đào tạo cơ bản từ 40 năm trước. 
1.2 Giáo viên không qua dự lớp và thực tập như mọi môn học sư phạm khác mà dạy trực tiếp ngay sau khi hoàn tất lớp ngắn hạn. 
1.3 Hầu hết giáo viên và học sinh trưởng thành nhận thức được tầm quan trọng của môn ĐHDC đối với học sinh khiếm thị và nắm được các kỹ thuật cơ bản thông thường của ĐHDC. 

2/ Tình hình xây dựng giáo trình ĐHDC và các phương pháp, kỹ thuật thích hợp: giáo trình chắp vá không thống nhất, thiếu thực tế và thiếu một cơ sở lý luận nền tảng của môn học. 
2.1 Không có giáo trình thống nhất với những bài tập thích hợp cho học sinh trong môi trường không quen nên học sinh gặp khó khoăn khi áp dụng vào thực tế. 79% thầy cô giáo cho biết gặp nhiều tình huống mà giáo trình không có. Ngoài ra, giáo trình chỉ để dạy trẻ mù hoàn toàn. Ví dụ các thầy cô có nơi vẫn sử dụng giáo trình cách đây 40 năm có bổ sung thêm các kiến thức đã được học qua các khóa ngắn hạn từ các giảng viên nước ngoài, học sinh học ĐHDC trong 5 năm (từ lớp 1 đến lớp 5) còn các giáo viên khác dạy theo chương trình tự soạn tự nhiều nguồn cũng như qua trao đổi với các đồng nghiệp và học sinh. 
2.2 41% giáo viên được hỏi nói rằng họ dạy định hướng di chuyển theo nhóm, tuy nhiên nếu được chọn thì tất cả họ đều muốn dạy theo phương pháp giáo dục cá nhân để có thể sát yêu cầu và đặc điểm của từng học sinh hơn. Trong khi 64% học sinh muốn được học theo phương pháp giáo dục cá nhân,và khoảng 14% muốn kết hợp cả cá nhân lẫn nhóm. Việc không thống nhất là nên học nhóm hay cá nhân cũng cho thấy chưa có cơ sở lý luận rõ ràng về sử dụng các phương pháp. 
2.3 Học sinh chỉ được dạy tại không gian trong nhà trường quen thuộc mà nhiều em học sinh nội trú đã sống đến 9 năm hoặc lâu hơn trong trường nên 92% học sinh được phỏng vấn cho biết gặp khó khăn khi di chuyển ở môi trường không quen, 88.40% gặp khó khăn khi nghe các loại âm thanh. Tất cả các học sinh nhìn kém đều cho biết chưa được hướng dẫn một cách phù hợp với đặc điểm tật mắt của mình khi di chuyển bên ngoài nhất là di chuyển đêm. Điều nầy cho thấy giáo trình dạy ĐHDC chưa được cập nhật đầy đủ nhằm phục vụ cho nhiều đối tượng học sinh đa dạng. 
2.4 Các kỹ năng ứng xữ xã hội khi di chuyển được dạy một cách từng chương, thiếu phần thực hành

3/ Tình hình đánh giá trước và sau huấn luyện: Chưa chuyên nghiệp, chưa hiểu đúng tầm quan trọng và các ứng dụng của đánh giá trước và sau huấn luyện
3.1 Gần như tất cả (16/17) các giáo viên đều cho rằng mình có đánh giá học sinh nhưng nhưng trong thực tế chưa giáo viên nào được đào tạo hướng dẫn các kỹ thuật đánh giá trong ĐHDC qua môn học Cơ sở lý luận cũng như các kiến thức về ảnh hưởng của khuyết tật của từng giác quan đến hiệu quả của ĐHDC của học sinh. Vì vậy đánh giá vẫn chưa ở mức độ chuyên nghiệp. 
3.2 79% gập khó khăn trong các tình huống thực tế, quan trọng nhất là chưa đưa ra được lời khuyên cá nhân sau khi làm đánh giá học sinh,. Ví dụ, sau khi đánh giá em nào cần đội nón hay kính râm khi đi dưới trời nắng đểtránh chói do mắt bị đục thủy tinh thể, em nào cần, em nào cần loại gậy hổ trợ đặc biệt…vv. Lời khuyên là mục đích chính của việc đánh giá và xây dựng chương trình dạy, vì vậy tầm quan trọng của đánh giá vẫn chưa được hiểu và áp dụng. 
3.3 Các học sinh nhìn kém đều cho rằng mình chưa được hướng dẫn phù hợp nhất là bài di chuyển đêm. Đó cũng là mục đích chính của đánh giá: đưa ra hướng đào tạo phù hợp với mức độ và dạng tật. 
3.4 Đánh giá sau huấn luyện: học sinh chưa được đánh giá sau huấn luyện với các lời khuyên và phương pháp dạy phù hợp với từng cá nhân học sinh. 
3.5 Cũng do không đánh giá sau huấn luyện, kết hợp với chưa có giáo trình phục vụ đối tượng đa dạng nên nhiều học sinh vẫn gặp nhiều khó khăn khi di chuyển thực tế ở các môi trường không quen, ban đêm..

4/ Tình hình trao đổi giữa giáo viên và học sinh được huấn luyện, và giữa các giáo viên, các học sinh: Chưa có sự trao đổi giữa giáo viên và học sinh để rút kinh nghiệm với nhau, việc thảo luận hiện tại nếu có vẫn là nhận xét việc học sinh thực hành bài học hơn là thảo luận 2 chiều. 
4.1 Mặc dù 100% cho rằng mình có thảo luận với học sinh nhưng chỉ có 64% học sinh cho biết giáo viên không trao đổi về tình trạng sức khỏe của học sinh trước buổi học, 28% tùy từng buổi học. 80% học sinh nói giáo viên chỉ đưa ra các tình huống cho học sinh trả lời, chỉ có một số ít giáo viên đưa ra các tình hướng để học sinh tự thảo luận với sự hỗ trợ của giáo viên. Như vậy việc thảo luận với học sinh về sức khỏe, các tình huống di chuyển…vv chưa được quan tâm đúng nghĩa, giáo viên chưa áp dụng khuynh hướng giáo dục hiện đại “lấy học sinh làm trung tâm”, giải đáp thắc mắc và đáp ứng nhu cầu người học trong khi ĐHDC là môn giáo dục phục hồi chức năng cá nhân. 
4.2 Về nhu cầu trao đổi: Hầu hết các giáo viên và học sinh đều có nhu cầu trao đổi với bạn bè, thầy cô, đồng nghiệp về nghề nghiệp. 36% học sinh chưa trao đổi với bạn bè vì nhiều nguyên nhân như chưa gặp bạn hợp, không có thời gian do học ngắt quãng hay khi học định hướng em mới 11, 12 tuổi. Khi được hỏi về hình thức và nội dụng trao đổi, 100% học sinh có mong muốn được nội dung về học sinh về thực tế khi di huyển nhất là đi xe bus và giao tiếp trao đổi trong khi chỉ có một giáo viên duy nhất không muốn trao đổi với đồng nghiệp. Các giáo viên muốn trao đổi với đồng nghiệp về phương pháp, kỷ thuật và chương trình dạy, kinh nghiệm thực tế với học sinh (có một trường hợp muốn trao đổi về chính sách dạy ĐHDC), 30% giáo viên chọn hình thức trao đổi qua mạng, 50% chọn hội thảo định kỳ. 52% học muốn được trao đổi qua diển đàn trên mạng với lý do có thể quy tựu được nhiều bạn bè và thầy cô chia sẽ kinh nghiệm, 44% chọn hội thảo định kỳ để có thể gập mặt trực tiếp.

Các kết quả của khảo sát cho thấy tình hình chung của công tác giáo dục ĐHDC tại Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận vẫn còn nhiều bất cập, giáo viên nguồn chưa được đào tạo một cách đầy đủ và thống nhất, giáo trình còn chưa phù hợp, tình hình dạy và ừng dụng còn chưa thực tế do chưa áp dụng chuyên nghiệp các đánh giá trước và sau huấn luyện, trao đổi và thảo luận giữa người học và người dạy cũng như phương pháp “lấy học sinh làm trung tâm”. Vì vậy, học sinh khiếm thị còn gặp rất nhiều khó khăn trong định hướng và di chuyển, ứng dụng kỹ thuật còn hạn chế trong cuộc sống các em sau này. 
Tuy nhiên, các giáo viên cũng như các em học sinh cũng thể hiện sự quan tâm và mong muốn được đào tạo, trao đổi nhiều hơn để phát triển ngành học này.

Đề Xuất:

Từ các kết quả khảo sát trên đây, chúng tôi xin đề xuất một số đề nghị trong việc giúp phát triển môn Định hướng di chuyển trong các trường khiếm thị tại Việt Nam:
- Các giáo viên hiện nay rất cần được đào tạo một cách có hệ thống trong đó có việc bổ sung kiến thức trong môn Cơ sở lý luận của Định hướng di chuyển, các kiến thức về chức năng và bệnh ảnh hưởng đến việc định hướng và di chuyển của học sinh. 
- Cần phổ biến thêm các tài liệu giáo khoa trong các lãnh vực mới của môn ĐHDC như tập luyện mắt, kỹ thuật đánh giá trong môn định hướng (vì đa số áp dụng đánh giá theo phương pháp dạy chữ), nghe các loại âm thanh nhất là âm vang, âm dội…vv.
- 45 tiết dành cho cả cả lớp 8-10 simh viên với chứng chỉ định hướng di chuyển cho sinh viên khoa Giáo dục đặc biệt là quá ít để có thể hiểu và thực hành được các kỹ thuật ĐHDC chưa nói đến cơ sở lý luận. Cần có một giáo trình thống nhất có tính linh động vì môi trường giao thông và địa hình ở mỗi địa phương ở Việt Nam có những đặc thù riêng.
- Để phổ biến thông tin và phát triển môn học cũng như có thể quy tựu được nhiều người từ nhiều miền của đất nước tham gia trong tương lai, nên thiết lập một diễn đàn trên mạng có người do người có chuyên môn ĐHDC điều hành vì không chỉ chia sẻ kinh nghiệm, ta còn có thể đưa các đoạn video clip ngắn hay các đường link video cho các giáo viên xem và học tập, học sinh trưởng thành cũng dể dàng đặc các câu hỏi thảo luận. Có thể tổ chức dưới hình thức mailing list hay liserserv như các ngành chuyên môn khác ở nước ngoài. Đề nghị Chương trình khuyết tật và phát triển (DRD) cho sử dụng một phần trên trang web của mình phục vụ cho diễn đàn.
- Tìm nguồn tài trợ tổ chức một số hội thảo ĐHDC để trao đổi kinhnghie65m giữa giáo viên và học sinh với nhau

Kết Luận:

Đây là cuộc khảo sát độc lập đầu tiên, giới hạn tại thành phố Hồ Chi Minh và ba tỉnh lân cận và trong phạm vi các trường khiếm thị mà chưa đến được nhiều tỉnh khác nhất là các hội người mù. Hy vọng sau nầy có những khảo sát sâu rộng hơn. Tuy vậy đây cũng là một đóng góp nhỏ cho thấy thực trạng môn định hường di chuyển ở nước ta hiện nay để những người làm chính sách giáo dục và các lãnh vực liên quan có một cái nhìn nào đó đối với môn học nầy mà tại các nước tiến tiên đã trở thành một liệu pháp giáo dục phục hồi chức năng không thể thiếu cho người khiếm thị ở mọi lứa tuổi.

  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Blasch, B., Weiner, W., & Welsh, R. (Eds.) (1997). Foundations of Orientation and 
Mobility, 2nd Edition, p 634. New York: American Foundation for the Blind.

Kossick, R. (1970). Activating a program for the Blind in South Vietnam (P 25-52); 
American Workers for the Blind Annual Report

Phi Hùng, Thúy Hằng (2009) Chương trình môn Định hướng và di chuyển từ lớp 1-
ường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu TP HCM

Viet, B, D, Le (2006). 40 Years of O&M – The Journey to Independence for People 
Impairment in Vietnam, The Educator, Vol XIX, issue 1, July 2006, The 
International Coucil For People with Visual Impairment (ICEVI),
http://www.icevi.org/publications/educator/July_06/Educator_July-06_part1.html

Tổ Khiếm thị, Khoa giáo dục đặc biệt (2009) chương trình Định hướng di 
chuyển cho sinh viên khoa Giáo dục đặc biệt

Viện Quốc Gia Phục Hồi (trước 1975, không có tác giả và năm) Chương trình dạy Định Hướng và di chuyển

 

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 30 Tháng 10 2011 09:18  

IFP Alumna Login


Bảng quảng cáo