IFP Vietnam Alumni

Huy động và kết nối nội lực để tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững của cộng đồng.

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Home Bài báo của Cựu sinh viên Nỗi sợ hãi tự do

Nỗi sợ hãi tự do

Email In PDF.

(TBKTSG)

Im lặng và sợ hãi

Tin tức về những vụ lạm dụng tình dục đối với trẻ vị thành niên ngày càng dồn dập trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thông thường những tin tức về các vụ án như vậy chỉ là phần nổi nhỏ của tảng băng, chứng tỏ hiện tượng đã trở nên đáng báo động.

Đáng chú ý hơn, nhiều trường hợp lại không phải những vụ cưỡng bức bởi những người lạ, mà từ những người thường gần gũi với các em, nhiều khi là hàng xóm, họ hàng thân cận, cậu, chú, cha dượng... Có cả những thầy giáo, thậm chí hiệu trưởng, và cả... cha ruột nữa. Và thường các em bị lạm dụng nhiều lần trong thời gian dài, phải tiếp tục chịu đựng trong im lặng cho đến khi vụ việc tình cờ bại lộ, hoặc tới khi đứa trẻ đã trở nên quá hoảng loạn.

Trong những vụ việc bị phát hiện, hầu hết các em đều bị kẻ xấu dọa dẫm không được nói ra việc đó.

“Văn hóa im lặng”

Tự vệ chống lại sự xâm phạm cơ thể là một trong những bản năng cơ bản nhất của con người. Điều gì đã khiến các em không thể nói ra sự việc ngay cả khi các em đang sống với cha mẹ, và nhiều người sẵn sàng bảo vệ các em?

Vị trí đặt quảng cáoTrước hết, trẻ em thiếu khả năng nói “không” trước sự xâm phạm, và khả năng phản kháng, lên tiếng để chấm dứt sự vi phạm đối với cơ thể và ý muốn của trẻ. Điều đó bắt nguồn từ sự sợ hãi của trẻ với những người lớn hơn, có quyền lực (đối với trẻ), và thói quen trong tiềm thức chấp nhận bị áp bức từ những người lớn và có quyền đó. Dư luận vẫn còn bàng hoàng chuyện thầy giáo ép học sinh bán dâm cho thầy và cho nhiều người khác. Không ai tin được chuyện đó. Nhưng dưới góc độ một học sinh, phản kháng lại thầy giáo là chuyện không thể.

Đó chính là một trong những hiện tượng xã hội mà nhà tư tưởng, nhà giáo dục Paulo Freire đã phân tích rõ trong tác phẩm kinh điển “Giáo dục của người bị áp bức” (Pedagogy of the Oppressed - 1970) gây tiếng vang lớn và đến bây giờ vẫn còn có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của giáo dục thế giới. Trong tác phẩm của mình, ông đã nêu lên hiện tượng thường thấy ở những đất nước thuộc địa hoặc từng là thuộc địa, cái bóng của sự thống trị vẫn còn mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội và giáo dục, khiến cho những người bị áp bức chấp nhận “văn hóa im lặng” trước mọi hình thức của sự áp bức, cho dù luật pháp đứng về phía họ.

Nỗi sợ hãi tự do

Theo Paulo Freire, “văn hóa im lặng” chính là công cụ hữu hiệu của những kẻ áp bức để duy trì quyền lực của mình, nhằm buộc người bị áp bức không thể nói ra tình trạng của họ. Và giáo dục chính là nơi họ xây dựng “văn hóa im lặng” đó, bằng cách áp đặt tư tưởng và suy nghĩ của những kẻ áp bức. Triết lý giáo dục nhồi nhét khiến cho suy nghĩ và nhận thức của người bị áp bức là do người áp bức định hướng và quyết định, làm cho họ trở nên cam chịu, tuân phục, và dần dần quên đi nhân phẩm của chính mình.

Người bị áp bức, do đó, không còn muốn vươn tới sự tự do thật sự. Họ chấp nhận thân phận, chỉ trông chờ sự ban phát từ những kẻ áp bức, hoặc ao ước vị trí của người áp bức, mong muốn trở thành người áp bức, duy trì trật tự thống trị vốn có mà không muốn vượt ra. Freire gọi đó là “nỗi sợ hãi tự do”.

Chúng ta có thể nhìn thấy, những em học sinh là nạn nhân của vụ ép bán dâm, cuối cùng lại trở thành đầu mối môi giới các bạn học sinh khác vào đường dây bán dâm. Hay như những đứa trẻ dùng bạo lực để tự vệ, bạo lực khủng khiếp hơn để chống lại bạo lực (xem bài “Làm sói” trên TBKTSG số ra ngày 5-8-2010). Không những người áp bức (hay những người còn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng thống trị cũ) sợ hãi tự do vì nó đe dọa quyền lực của họ, người bị áp bức cũng “sợ hãi tự do”, là bởi họ chưa từng biết tới, chưa từng trải qua tự do thật sự.

Tự do chính là cuộc đối thoại phá vỡ im lặng và sợ hãi

Khi một đứa trẻ đến lớp và chỉ được nói vanh vách những điều trong sách giáo khoa cho là đúng, phân tích một bài văn theo đúng ý cô giáo đã hướng dẫn, đánh giá những học thuyết khác nhau theo một chuẩn mực đã định sẵn và từ chối những ý kiến riêng, nhận thức riêng khác với chuẩn mực, đó chính là nền giáo dục nhồi nhét tạo ra những con người “sợ hãi tự do”.

Nền giáo dục đó tạo ra những con người không dám có ý kiến riêng, không dám nói ngược lại với sách vở, cha mẹ, người lớn, không dám nói “không” kể cả khi bị áp bức, xâm hại. Họ còn sợ hãi trước cái xấu, cái ác, cái sai, và góp phần duy trì thế giới quanh mình theo trật tự nguyên trạng.

Còn bao nhiêu trẻ em bé đang phải câm nín và chịu đựng? Còn bao nhiêu nạn nhân tiếp tục tiếp tay cho chính kẻ gây ra tội ác với mình? Tội ác được dung dưỡng và nhân lên mãi rồi sẽ đi tới đâu?

Freire đã chỉ ra rằng, khi giáo dục là công cụ tạo ra “văn hóa im lặng” và “nỗi sợ hãi tự do”, thì chỉ có sự thay đổi trong giáo dục mới phá vỡ được nỗi sợ hãi đó. Đó là triết lý giáo dục dựa trên nền tảng sự tôn trọng, tin cậy và đối thoại. Ở đó, người dạy và người học đối thoại và hợp tác với nhau cùng khám phá thế giới ở một mức độ nhân bản nhất có thể được.

Người học không thụ động chờ đợi ban phát kiến thức, mà được khuyến khích để khám phá, phát huy sức sáng tạo, trải nghiệm suy nghĩ, phê phán để tự mình thấu hiểu bản thân mình và thế giới xung quanh. Có được sức mạnh đó, họ mới có tiếng nói và nhân phẩm của riêng mình.

Người dạy không phải là người “truyền thụ” kiến thức theo kiểu nhồi nhét, áp đặt. Để làm được điều đó, họ phải thực sự có niềm tin vào nhân phẩm và năng lực của người học. Họ phải có đủ tài năng để khơi gợi người học tự trải nghiệm và khám phá, đủ nhân cách và sự tôn trọng để giúp người học nhận ra phẩm giá của họ, và đủ khiêm tốn để học hỏi từ chính người học trong cuộc đối thoại vượt qua giới hạn của áp bức và sợ hãi.

Paulo Freire cũng là cha đẻ phương pháp giáo dục chủ động mà giáo dục Việt Nam cũng đang tìm cách áp dụng. Một trong những nguyên tắc của phương pháp này là, hãy bắt đầu bài học bằng câu hỏi học sinh đã biết gì rồi và lắng nghe các em. Một chị giáo viên sau khi tham dự một lớp tập huấn ngắn về phương pháp này, dù rất tâm đắc, cũng từng tâm sự: “Mình luôn cố gắng nhớ điều đó, nhưng khó lắm, vô lớp cứ quên hỏi các em mà thao thao giảng luôn. Cũng tại tụi mình bao nhiêu năm nay được dạy và dạy theo kiểu áp đặt quen rồi”.

Vâng, rất khó! Nhưng không bắt đầu thì làm sao có thay đổi?

 

(*) Paulo Freire (1921-1997) là nhà giáo dục người Brazil và nhà tư tưởng được xem là có ảnh hưởng lớn nhất đối với giáo dục thế giới cuối thế kỷ 20. Ông từng làm việc cho UNESCO, Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Thay đổi xã hội của Đại học Harvard... Hiện nay trên thế giới có rất nhiều trung tâm nghiên cứu Paulo Freire để tiếp tục nghiên cứu những tư tưởng sâu sắc của ông.

(**) Các thuật ngữ sử dụng trong bài lấy từ lý thuyết của Paulo Freire: văn hóa im lặng (culture of silence), nỗi sợ hãi tự do (fear of freedom), giáo dục nhồi nhét (banking concepts), suy nghĩ phê phán (critical thinking)...

Thanh Hương.

 link bài báo http://www.thesaigontimes.vn/Home/vanhoa/vanhoaold/42174/Noi-so-hai-tu-do.html

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 14 Tháng 11 2010 19:51  

IFP Alumna Login


Bảng quảng cáo