IFP Vietnam Alumni

Huy động và kết nối nội lực để tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững của cộng đồng.

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Home Bài báo của Cựu sinh viên Phát huy nghề truyền thống gác kèo ong vùng U Minh Hạ nhằm sử dụng bền vững đa dạng sinh học

Phát huy nghề truyền thống gác kèo ong vùng U Minh Hạ nhằm sử dụng bền vững đa dạng sinh học

Email In PDF.

Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày13/8/2008 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2009. Một trong những nội dung quan trọng của Luật là vấn đề “tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích” sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên đa dạng sinh học. Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích không thể tách rời với tri thức truyền thống hay còn gọi là tri thức bản địa, tập quán địa phương. Có thể nói, việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên đồng hành với sự tôn vinh, đề cao những giá trị truyền thống từ cộng đồng dân cư, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.

 

Tổng quan về vùng nghiên cứu

Vùng rừng tràm U Minh được chiathành hai phần, U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang và U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau. Rừng tràm U Minh Hạ có diện tích 40.744 ha, trong đó Vườn quốc gia U Minh Hạ có 8.528 ha với 2.953 ha rừng tràm được bảo vệ nghiêm ngặt. Vườn quốc gia U Minh Hạ đã được UNESCO công nhận là một trong 3 vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau.

Gắn liền với điều kiện tự nhiên và hệ sinh thái rừng tràm, đặc biệt là sự thích nghi và phát triển chiếm ưu thế của cây tràm, loài ong mật cũng phát triển theo và cho sản phẩm mật ong đặc trưng của rừng tràm. Bên cạnh đó, sinh kế của cộng đồng dựa vào tự nhiên, nghề gác kèo ong (GKO) truyền thống, đã được hình thành và phát triển từ rất lâu. Theo tài liệu, nghề GKO được hình thành từ thời Pháp thuộc. Sau ngày giải phóng đất nước, Cà Mau đã thành lập các lâm ngư trường để quản lý và bảo vệ rừng, các tập đoàn phong ngạn (các thợ rừng nhắm hướng gió để tìm tổ ong khai thác mật vì ong đi ăn theo hướng gió) cũng được hình thành trong thời gian này. Từ năm 1989 đến năm 1991, thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho nông hộ, rừng tràm bị chia cắt, phạm vi hoạt động của các tập đoàn phong ngạn bị thu hẹp. Hiện nay, các đơn vị quản lý và bảo vệ rừng đang từng bước thử nghiệm cho phép thành lập lại các tập đoàn phong ngạn để khai thác nguồn mật ong tự nhiên của rừng tràm. Mỗi nhóm thợ rừng đi ăn ong được gọi là đoàn. Các đoàn tập hợp lại với nhau thành tập đoàn phong ngạn. Tập đoàn phong ngạn bao gồm những người sống giữa bốn bề mật ngọt rừng tràm nên họ nghĩ việc bảo vệ rừng và đàn ong như bảo vệ nồi cơm của mình. Mỗi một thành viên trong tập đoàn được nhận một khu vực rừng và được quyền gác kèo, đồng thời cũng chịu luôn trách nhiệm bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng. Để bảo vệ rừng, các tập đoàn phong ngạn có tổ chức rất chặt chẽ, cụ thể hóa việc giữ rừng bằng những quy định hoặc quy ước, có kiểm soát cụ thể và bắt buộc các thợ rừng phải tuân theo. Nếu phong ngạn viên (thợ rừng là thành viên của tập đoàn phong ngạn) nào vi phạm thì bị tịch thu đầu kèo, cho thu hoạch mật ong lần cuối để làm vốn và bị đuổi ra khỏi tập đoàn.

Sản phẩm mật ong rừng U Minh Hạ và giá bán tại Cà Mau qua các năm

 

Kết quả nghiên cứu

Bằng những số liệu và phương pháp phân tích khoa học, nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn và lý luận sâu sắc trong vấn đề phát huy nghề truyền thống trong sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng đặc biệt tại khu Dự trữ sinh quyển thế giới. Đó là:

Thứ nhất, về hiện trạng nghề truyền thống GKO và tập đoàn phong ngạn

Nghề GKO tự nhiên đã hình thành và phát triển đến nay khoảng gần 200 năm. Vào những năm 1950, rừng tràm U Minh Hạ có diện tích rất lớn, dân cư thưa thớt, tập trung sống thành từng cụm để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau và chống lại thú rừng. Khi đó tổ chức đoàn phong ngạn được ra đời. Đoàn phong ngạn tự tổ chức, không có sự quản lý của nhà nước. Các đoàn phong ngạn chính thức đổi tên thành Tập đoàn phong ngạn vào năm 1982. Tập đoàn có cơ cấu tổ chức và hoạt động, có sự quản lý của nhà nước, có quy chế, quy ước bắt buộc các tập đoàn viên phải thực hiện. Ban đầu có 4 tập đoàn phong ngạn được hình thành với tổng số lượng trên 329 tập đoàn viên. Sau đó, số lượng các tập đoàn không ngừng gia tăng và lớn mạnh cả về số lượng tập đoàn và tập đoàn viên tham gia.

Thứ hai, tri thức bản địa với nghề GKO ở rừng tràm U Minh Hạ

Mùa vụ GKO phụ thuộc vào mùa hoa tràm. Hoa tràm hầu như trổ bông quanh năm nhưng nở rộ vào tháng 11 và tháng 12, vào mùa mưa tràm ít trổ bông. Theo kết quả khảo sát, GKO được chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa ong nước từ tháng 5 đến tháng 7 và mùa ong hạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.Mùa vụ GKO trùng với thời gian nhàn rỗi của nông hộ trong năm, trùng với các tháng thiếu ăn trong năm và đồng thời cũng trùng với thời gian phòng chống cháy rừng. Điều này cho thấy, hoạt động GKO góp phần giải quyết công ăn việc làm, giảm thấp lực lượng lao động nông nhàn cho nông hộ trong lúc nhàn rỗi, tăng nguồn thu cho gia đình trong các tháng thiếu ăn.

Các điều kiện làm nghề truyền thống GKO bao gồm 5 “vốn” quan trọng nhất, đó là:

Vốn nhân lực: Theo kết quả điều tra, có 50% số hộ được điều tra có kiến thức và hiểu biết cơ bản về nghề GKO, tuy nhiên chỉ có 10% số hộ có bí quyết nghề GKO. Đa số các thợ rừng cho rằng, nghề truyền thống GKO thường được dạy và lưu truyền cho con cháu trong gia đình, ít khi được truyền dạy rộng rãi cho những người ngoài họ hàng thân tộc. Ngoài ra, các thợ rừng luôn có sáng kiến trong việc sử dụng lửa tạo khói khi lấy ong để đảm bảo không gây ra cháy rừng như sử dụng bình phun khói, được thiết kế như hình con cóc, bỏ con cúi được làm bằng vật liệu xơ dừa hay rễ cây có vòi xịt khói ngăn tàn lửa bay ra ngoài để tránh gây cháy rừng. Đây cũng là một tri thức bản địa vô cùng quý báu cần được phát huy.

Vốn tự nhiên: Rừng tràm trên 10 năm tuổi thì tiềm năng cho mật nhiều và tốt hơn vì cây có tán to, nhiều cành, nhiều lá và cho nhiều hoa. Các thợ rừng cho biết, sản lượng mật tỷ lệ thuận với tuổi rừng tràm tự nhiên trong khoảng từ 10 đến 20 tuổi và ong có thể hút mật trên nhiều loại hoa khác nhau như: hoa tràm, hoa mua, hoa giác, hoa sậy, hoa mây dóc, hoa cây bùi, hoa thốp nốp và hoa của một số loại cây ăn trái. Tuy nhiên, ong mật rừng U Minh Hạ hút mật chủ yếu trên hoa tràm (chiếm 99%), cho mật đạt chất lượng tốt và luôn mang hương vị đặc trưng của hoa tràm.

Vốn vật chất: Để thực hiện được nghề GKO, cần thiết phải có các dụng cụ cơ bản như: kèo ong, xuồng nhỏ (xuồng be tám, be bảy hoặc xuồng composite), xô và thao chứa mật, dao, búa, bình phun khói và đồ bảo hộ lao động. Kèo ong được làm bằng gỗ với chất liệu bằng cây cau là tốt nhất hoặc cây tràm được lột bỏ vỏ và phơi khô.

Vốn tài chính: Để thực hiện GKO, các thợ rừng cần phải được trang bị đầy đủ các dụng cụ và thiết bị cần thiết cho việc gác kèo. Chi phí tối thiểu để mỗi một thợ rừng gác 100 bộ kèo ong cần khoảng 6 triệu đồng. Trong đó một phần là hộ gia đình tận dụng các điều kiện sẵn có của gia đình hoặc ở địa phương, chi phí phải đầu tư để mua dụng cụ là hơn 3 triệu  đồng .

Vốn xã hội: Đối với nghề GKO ở Tập đoàn 19/5 sản xuất theo hình thức tổ hợp tác sản xuất. Khi tham gia tập đoàn, các tập đoàn viên được chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm GKO đồng thời có mối quan hệ mật thiết với hạt kiểm lâm để phối hợp trong công tác tập huấn và phòng chống cháy rừng.

Thứ ba, sinh kế từ nghề GKO

Mỗi tổ ong thu hoạch 6 lần trong năm, mỗi lần thu được từ 3-5 lít mật. Với giá mật ong trên thị trường hiện nay trên 100 ngàn đồng/lít, thì thu nhập tăng thêm từ GKO ở mỗi gia đình thấp nhất cũng hơn 10 triệu đồng trên năm. Đây là tiềm năng rất lớn để khôi phục nghề truyền thống GKO nhằm tăng thu nhập cho nông hộ.

Thứ tư, phân tích các thể chế, chính sách và các quy ước liên quan đến nghề truyền thống GKO

Có thể kể đến một số văn bản chủ yếu liên quan đến nghề GKO trong đó có những chính sách sẽ tạo cơ sở và hành lang pháp lý cho việc phát triển nghề GKO nhưng cũng có những chính sách làm hạn chế nghề truyền thống này.

Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, điều 42 quy định các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân xây dựng, tiến hành các hoạt động trên các công trình đi qua rừng, các hoạt động ở trong rừng, ven rừng phải chấp hành các quy định và các biện pháp về phòng cháy, chữa cháy rừng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chủ rừng. Với quy định này, mỗi hộ gia đình phải cử người túc trực phòng chống cháy vào các tháng cao điểm cháy rừng mùa khô, thường từ tháng 2 đến tháng 4. Hoạt động GKO vào thời điểm này phải được tổ chức và kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo không cháy rừng.

Luật Đa dạng sinh học năm 2008, điều 4, thể hiện nguyên tắc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học phải kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học; giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học với việc xóa đói, giảm nghèo. Tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng đa dạng sinh học phải chia sẻ lợi ích với các bên có liên quan; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tổ chức, cá nhân. Với nguyên tắc này thì đây là cơ sở pháp lý để nông hộ vùng U Minh Hạ sử dụng hợp lý đa dạng sinh học; hài hòa giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học; được hưởng lợi từ việc chia sẽ lợi ích từ tài nguyên được phép khai thác cũng như nguồn mật ong thiên nhiên, từ đó giúp nông dân nâng cao đời sống, xóa đói, giảm nghèo.

Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, điều 20 về việc chi trả dịch vụ môi trường rừngquy định hộ nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài phải đảm bảo diện tích rừng cung ứng dịch vụ được bảo vệ và phát triển theo đúng hợp đồng đã ký kết với chủ rừng. Với nghĩa vụ đã ký kết cung ứng dịch vụ môi trường rừng thì việc giữ rừng phải đảm bảo đây cũng là cơ sở để phát huy nghề gác kèo ong vùng U Minh Hạ trong thời gian tới.

Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau.Một trong những mục tiêu của Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2020 là nâng cao nguồn thu từ các giá trị môi trường rừng thông qua Cơ chế phát triển sạch (CDM). Trong Quy hoạch có một định hướng được đưa ra đối với rừng sản xuất là khu vực rừng tràm kinh tế tại huyện U Minh và Trần Văn Thời là từng bước chuyển đổi loài cây trồng phù hợp với xu thế và nhu cầu của thị trường. Chú trọng xây dựng vùng nguyên liệu gỗ để cung cấp nguyên liệu cho chế biến. Trong đó cần đầu tư phát triển một số loài cây mọc nhanh như keo lai, bạch đàn cao sản. Tuy nhiên, định hướng trên của Quy hoạch sẽ làm hạn chế phát triển nghề truyền thống GKO. Việc chuyển đổi đối tượng cây trồng như sang cây keo lai và cây bạch đàn là môi trường không thích hợp cho ong phát triển tốt như hệ sinh thái rừng tràm. Như vậy, bên cạnh những chính sách kể trên thuận lợi cho nghề GKO, tỉnh Cà Mau vừa phê duyệt quy hoạch phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 có tác động không nhỏ đến sự hồi sinh của nghề GKO ở đây.

Thứ năm, vì sao nghề GKO không được phát huy và những vấn đề của tri thức truyền thống

Nhóm nghiên cứu đã phân tích các nguyên nhân gốc rễ làm cho nghề GKO không được phát huy và có nguy cơ mai một bao gồm:

- Sản phẩm mật ong chưa có thương hiệu: do chất lượng mật ong không đảm bảo (chất lượng thấp và không còn nguyên chất), trong đó chủ yếu là do mật ong sau khi được thu hoạch người bán đã pha thêm tạp chất vào như nước đường, bột, cháo nếp… Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do chưa có một cơ quan, tổ chức nào đứng ra quản lý, kiểm tra, giám sát chất lượng mật ong lưu thông trên thị trường.

- Thiếu người truyền nghề và tính cộng đồng trong GKO: Do có một lượng lớn dân di cư vào sống trong các khu vực lâm phần của các lâm trường và Vườn quốc gia thông qua hình thức nhận đất khoán rừng. Phần lớn số lượng dân di cư này không được tiếp cận với nghề GKO và không có người truyền nghề nên họ không có kỹ thuật, kinh nghiệm và bí quyết GKO. Các hoạt động gác kèo chủ yếu là do tự phát, không có kiến thức sâu về gác kèo nên lượng mật thu hoạch được không nhiều. Khả năng truyền nghề bị hạn chế là một nguyên nhân quan trọng khiến cho nghề GKO bị mai một. Nghề GKO chỉ mang tính cha truyền con nối trong gia đình, những người gác kèo không muốn truyền nghề cho những người khác .

Thiếu tính tổ chức, liên kết để phát triển nghề GKO: Nhiều hộ dân tự phát, hoạt động dùng lửa phun khói để thu hoạch mật ong còn sử dụng dụng cụ thô sơ, chủ yếu là dùng đuốc tự tạo (mồi lửa được làm bằng xơ dừa phơi khô), rất dễ làm cháy rừng do không kiểm soát kỹ được tàn lửa.. Đây là vấn đề gây ảnh hưởng lớn, không tốt đến hình ảnh của nghề GKO truyền thống và do đó trong suốt thời gian qua nhà nước không có chính sách khuyến khích phát triển nghề GKO do thiếu tổ chức hoạt động gác kèo một cách bài bản và chuyên nghiệp.

- Chính sách bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia và công tác phòng chống cháy rừng: Chính sách này đã ngăn cản sự tiếp cận nguồn mật ong thiên nhiên từ Vườn quốc gia vì đơn vị quản lý, bảo vệ rừng sợ nguy cơ cháy rừng từ hoạt động gác kèo ong. Để tháo gỡ chính sách này thì cần phải giải quyết bài toán cân bằng nước (Hydrology) trong vùng lõi để giảm rủi ro cháy rừng trong mùa khô.

Rừng bị chia cắt và quy mô sản xuất nhỏ lẻ: Chính sách giao đất, giao rừng của Chính phủ là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tạo sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xã hội ở địa bàn nông thôn, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Khi thực hiện chính sách này, diện tích rừng bị chia cắt để giao cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tự quản lý; chính vì vậy nghề gác kèo ong bị ảnh hưởng do quy mô rừng được quản lý nhỏ lại, không còn gác được nhiều kèo như trước đây. Nghề gác kèo ong từ mô hình quản lý là các tập đoàn phong ngạn thực hiện gác kèo trên diện tích lớn của rừng tràm quốc doanh trước đây dần dần chỉ còn các hộ dân cá thể tự thực hiện gác kèo trên phần đất lâm phần được giao khoán.

 

Các kiến nghị và đề xuất

Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm mật ong: Hiện nay, sản phẩm mật ong không có thương hiệu, không có tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm. Cần phải hoàn chỉnh việc đăng ký nhãn hiệu Mật ong U Minh Hạ để tiến đến quảng bá xây dựng thương hiệu cho sản phẩm độc đáo này.

- Phổ biến kiến thức, kinh nghiệm GKO và truyền nghề: Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho nghề GKO bị mai một là khả năng truyền nghề. Do thiếu tính cộng đồng nên những người nắm giữ bí quyết về nghề chỉ truyền lại cho con, cháu trong gia đình (mang tính cha truyền con nối). Nên những người không nắm kỹ thuật khi thực hiện gác kèo sẽ không khai thác được tối đa sản lượng mật ong. Rất cần những lớp tập huấn cho những hộ dân có nhu cầu học hỏi về kỹ thuật gác kèo để thu hoạch mật ong an toàn. Người truyền dạy kiến thức là những nghệ nhân có kinh nghiệm lâu năm, có uy tín trong vùng và sẵn sàng truyền nghề;

Hạn chế sử dụng các loại hóa chất, thuốc BVTV: Việc sử dụng hóa chất, thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp hiện nay đang diễn ra tràn lan làm ảnh hưởng đến côn trùng, đặc biệt là loài ong mật rừng. Chính vì vậy, cần hướng dẫn người dân thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái và bền vững, ưu tiên sử dụng các thiên địch trong phòng chống sâu hại, hạn chế sử dụng thuốc tăng trưởng, thuốc BVTV trong chăm sóc hoa màu, cây ăn trái… để hạn chế tác động và ảnh hưởng đến ong mật;

Tổ chức sản xuất và nâng cao tính cộng đồng: Khôi phục và phát triển hình thức sản xuất theo mô hình tập đoàn phong ngạn, có sự tham gia quản lý của nhà nước và các đơn vị quản lý, bảo vệ rừng. Phát huy quyền làm chủ và tự chủ của cộng đồng trong việc tham gia chia sẽ lợi ích, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên;

Thực hiện chính sách khuyến khích phát huy nghề truyền thống và chính sách về thực hiện cơ chế chia sẻ trách nhiệm và lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Cần có chính sách khuyến khích phát huy tập quán và nghề truyền thống trong đó có nghề truyền thống gác kèo ong. Tổ chức khôi phục và phát triển các tập đoàn phong ngạn cho cộng đồng tham gia vừa sản xuất vừa bảo vệ phát triển rừng;- Cần nghiên cứu vấn đề thí điểm cơ chế chia sẻ trách nhiệm và lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ

Cải thiện tình trạng suy thoái chất lượng rừng: Tăng cường công tác phòng chống cháy rừng, quản lý và nghiên cứu để điều tiết nguồn nước trong vùng lõi.- Nghiên cứu mối tương quan giữa diện tích rừng, tuổi rừng, chu kỳ khai thác với sản lượng mật ong rừng tràm. Xây dựng kế hoạch khai thác mật ong phải gắn với kế hoạch và phương án khai thác rừng tràm;

Dựa trên kết quả nghiên cứu này, cần thiết phải xây dựng và triển khai dự án can thiệp để phát triển nghề GKO cho dân cư vùng đệm U Minh Hạ. Nguy cơ nghề truyền thống GKO bị mai một là rất lớn. Để bảo tồn kiến thức truyền thống, phát huy nghề GKO cho cộng đồng U Minh Hạ, rất cần thiết phải hỗ trợ cộng đồng để phát huy tài sản sẵn có của họ.

Với hơn 40.000 ha rừng tràm U Minh Hạ là diện tích rừng tràm lớn nhất trong cả nước, mang lại những giá trị sinh thái và sinh kế to lớn. Người dân vùng U Minh Hạ từ lâu đã tích lũy qua nhiều thế hệ những cách thức để sống hài hòa với thiên nhiên và hưởng lợi từ thiên nhiên một cách bền vững. Nghề GKO đã phát triển ở U Minh Hạ hơn 200 năm qua với sự hình thành các hội nhóm khai thác có những quy ước chặt chẽ về tổ chức và hoạt động để khai thác mật ong rừng tràm, một sản phẩm có nhiều công dụng và giá trị cao. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau nghề GKO đang có nguy cơ mai một có thể dẫn tới thất truyền. Nghề GKO đang cần một “bà đỡ” cho hồi sinh và phát triển. Một tập quán địa phương, một tri thức truyền thống lâu đời cần được tôn vinh và phát huy như một bản sắc văn hóa dân tộc trong khai thác đa dạng sinh học nhằm hướng tới phát triển bền vững .

 

Bình phun khói không gây cháy rừng được dân phong ngạn sử dụng

Quách Văn Ấn[1], Dương Bích Hạnh[2],Đào Huy Giáp[3],Lê Thanh Bình[4], Nghiêm Kim Hoa[5]

Source: http://www.vacne.org.vn/default.aspx?newsid=7054

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 16 Tháng 10 2011 09:54  

IFP Alumna Login


Bảng quảng cáo