IFP Vietnam Alumni

Huy động và kết nối nội lực để tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững của cộng đồng.

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Home Bài báo của Cựu sinh viên Nghề gác kèo ong và công tác bảo tồn khu sinh quyển

Nghề gác kèo ong và công tác bảo tồn khu sinh quyển

Email In PDF.

Giữ gìn, phát huy tri thức bản địa và tập quán sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững của các cộng đồng trong các khu sinh quyển và di sản thiên nhiên thế giới là một nội dung được UNESCO và các tổ chức quốc tế chú trọng trong nhiều năm qua. Phát huy nghề gác kèo ong và hồi sinh hoạt động của đoàn “phong ngạn” ở vùng rừng tràm U Minh Hạ cũng nằm trong xu hướng này.

Thanh Hương - Quách Văn Ấn

Những người mê rừng

Ông Dư Văn Kiến, tập đoàn phó tập đoàn phong ngạn 19/5, thuộc xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, mới 55 tuổi đời nhưng đã có 44 năm theo nghề gác kèo ong.

 

Ông Kiến kể khi còn nhỏ đã theo ông cố học làm nghề này, và tham gia đoàn “phong ngạn” (từ để chỉ các thợ rừng đi theo hướng gió để tìm tổ ong khai thác mật). Hiện nay, tập đoàn phong ngạn của ông có 40 hộ, giữ 520 héc ta rừng, cho tổng doanh thu từ gác kèo ong, khai thác cây rừng, và làm cá hơn 5 tỉ đồng/năm.

 

Sở dĩ thu nhập cao như vậy là vì mật ong và cây rừng bây giờ có giá hơn trước. Theo cách so sánh của ông Kiến, nếu khoảng 30 năm trước, giá mỗi lít mật ong chỉ tương đương một ký đường, thì bây giờ mỗi lít mật ong có giá 120.000 đồng, tức mua được năm ký đường. Chỉ tính riêng gác kèo ong, mỗi năm có hai mùa khai thác đậm trong khoảng sáu tháng, mỗi tháng ông thu khoảng 200 lít mật, bán được hơn 20 triệu đồng. Thời gian còn lại trong năm thu hoạch lai rai cũng được hơn 10 triệu/tháng.

Đoàn phong ngạn chú trọng đầu tư vào tái sinh rừng và đàn ong, thường xuyên mua cây giống, cá giống và kèo ong. Vì vậy, không phải ai muốn cũng có thể tham gia tập đoàn ngay được. Ngoài việc đóng tiền theo cách tính giá trị đầu tư tái sinh rừng từ trước, người tham gia còn phải tuân thủ các nguyên tắc của đoàn phong ngạn trong việc bảo vệ rừng và bảo vệ đàn ong. Ví dụ, cách phà khói khi lấy ong làm sao để không làm rơi tàn lửa gây ra cháy rừng, chỉ được sử dụng lửa khói lúc trời còn sương và ẩm… Những nguyên tắc của đoàn phong ngạn rất nghiêm ngặt, nếu vi phạm thì sẽ bị đuổi ra khỏi tập đoàn.

Ông Kiến khẳng định, những người thuộc đoàn phong ngạn bảo vệ rừng như bảo vệ chính cuộc sống của mình. Ông nói: “Làm nghề này tụi tui mê rừng lắm, quý rừng lắm, làm sao có chuyện để cháy rừng!”.

Lịch sử đoàn phong ngạn ở U Minh Hạ

Rừng tràm U Minh Hạ có diện tích 40.744 héc ta, trong đó Vườn quốc gia U Minh Hạ chiếm 8.528 héc ta với 2.953 héc ta đã được UNESCO công nhận là một trong ba vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới mũi Cà Mau. Hiện nay, rừng tràm U Minh Hạ chủ yếu là rừng tràm trồng sau khai thác hoặc sau cháy rừng (chiếm 52% tổng diện tích). Diện tích này nằm toàn bộ trên vùng đệm của Vườn quốc gia U Minh Hạ, phần lớn đã được giao khoán cho dân.

Gắn liền với điều kiện tự nhiên và hệ sinh thái rừng tràm, loài ong mật cũng phát triển theo và cho sản phẩm mật ong có hương vị hoa tràm rất đặc trưng. Mùa vụ gác kèo ong phụ thuộc vào mùa hoa tràm, chia thành hai mùa rõ rệt, mùa ong nước từ tháng 5 đến tháng 7 và mùa ong hạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Mùa vụ gác kèo ong trùng với thời gian nhàn rỗi của nông hộ, trùng với các tháng thiếu ăn trong năm đồng thời cũng trùng với thời gian phòng chống cháy rừng. Điều này cho thấy, hoạt động gác kèo ong góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng nguồn thu cho các gia đình trong những tháng thiếu ăn.

Theo các tư liệu và nghiên cứu, nghề gác kèo ong đã có từ cách đây gần 200 năm. Vào những năm 1950, rừng tràm U Minh Hạ có diện tích rất lớn, dân cư thưa thớt, tập trung sống thành từng cụm để giúp đỡ lẫn nhau và chống lại thú rừng. Khi đó các đoàn phong ngạn được ra đời, tự tổ chức, không có sự quản lý của Nhà nước. Đến năm 1982, các đoàn phong ngạn chính thức đổi tên thành tập đoàn phong ngạn, chịu sự quản lý của Nhà nước, có quy chế, quy ước bắt buộc các tập đoàn viên phải thực hiện.

Ban đầu có bốn tập đoàn phong ngạn được hình thành với trên 329 tập đoàn viên và sau đó không ngừng lớn mạnh. Nhưng khoảng từ năm 1989-1991, thực hiện chính sách giao đất giao rừng cho nông hộ, rừng tràm bị chia cắt, phạm vi hoạt động của các tập đoàn phong ngạn bị thu hẹp lại. Hiện nay, các đơn vị quản lý và bảo vệ rừng đang từng bước thử nghiệm cho phép thành lập lại các tập đoàn phong ngạn để khai thác nguồn mật ong tự nhiên của rừng tràm và bảo vệ rừng.

Làm sao phát triển nghề gác kèo ong?

Theo kết quả nghiên cứu “Phát huy nghề truyền thống gác kèo ong vùng U Minh Hạ” do UNESCO tài trợ, nhóm nghiên cứu của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau phối hợp với Ban Quản lý khu sinh quyển mũi Cà Mau thực hiện từ tháng 5-2010 đến tháng 3-2011, nghề gác kèo ong và hoạt động của các tập đoàn phong ngạn phù hợp với công tác bảo vệ và phát triển rừng trong khu dự trữ sinh quyển; kết hợp hài hòa giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học; giúp nông dân nâng cao đời sống, xóa đói, giảm nghèo.

Tuy vậy, theo báo cáo nghiên cứu, cũng có những nguyên nhân khiến nghề gác kèo ong có nguy cơ bị mai một như chưa xây dựng thương hiệu cho sản phẩm mật ong U Minh; bí quyết nghề gác kèo ong mai một và thiếu tính tổ chức, liên kết để phát triển; chính sách bảo vệ nghiêm ngặt của vườn quốc gia và công tác phòng chống cháy rừng đã ngăn cản sự tiếp cận nguồn mật ong thiên nhiên từ vườn quốc gia; rừng bị chia cắt dẫn đến quy mô sản xuất rời rạc, nhỏ lẻ…

(bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 10-11-2011)

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 03 Tháng 12 2011 10:04  

IFP Alumna Login


Bảng quảng cáo