IFP Vietnam Alumni

Huy động và kết nối nội lực để tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững của cộng đồng.

  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Home Tin tức theo Chuyên đề THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI

Email In PDF.

Thanh Hóa và Bến Tre đã được Cục Bảo trợ Xã hội, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) chọn để xây dựng Mô hình điểm về trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng, giai đoạn 2011-2020.

Năm 2013, nhóm chuyên gia của RTCCD đã phối hợp với Cục Bảo trợ Xã hội thực hiện nghiên cứu về thực trạng hệ thống chăm sóc người bệnh tâm thần tại tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Bến Tre. Nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu về  nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần của người dân và khả năng đáp ứng của hệ thống các cơ sở chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Thanh Hóa và Bến Tre. Dưới đây là những phát hiện chính và các khuyến cáo của nhóm nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân:

I. Thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Thanh Hóa và Bến Tre

  1. 1. Gánh nặng bệnh tâm thần cao và nhu cầu chăm sóc người bệnh tâm thần lớn.

Kết quả điều tra hộ gia đình với mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên 1.547 người từ 17 tuổi trở lên (sử dụng mẫu SDQ26 của WHO) cho kết quả chẩn đoán sàng lọc dịch tễ học như sau:

  • Tỷ lệ tâm thần phân liệt (TTPL) trong dân số tuổi từ 17 trở lên là 1,7% (95% CI: 1,0% -2,3%).  Trong đó, tại Bến Tre là 1,1% (95% CI: 0,4%-1,8%) và Thanh Hóa: 2,4% (95% CI 1,3% - 3,6%);
  • Tỷ lệ bị động kinh trong nhóm tuổi từ 17 trở lên là 3,8% (95%CI: 2.9% - 4.8%) , trong đó với Bến Tre là 3,6% (95% CI: 2.4% - 4.8%) và Thanh Hóa là 4,1% (95% CI:  2.6% - 5.7%)
  • Tính chung cả hai bệnh thuộc chương trình tâm thần cộng đồng gánh nặng hai bệnh trong cộng đồng là 4,7% (3,7% - 5,8%), trong đó với Bến Tre là 4,3% (95% CI: 2,9%-5,6%) và  với Thanh Hóa 5,4%  (95% CI: 3,6% - 7,1%)

Gánh nặng rối nhiễu tâm trí trong cộng đồng, bao gồm cả nhóm Neurotic disorders (tâm căn) và Psychosis Disorders (loạn thần) là:

  • Tỷ lệ người có nguy cơ rối nhiễu tâm trí (RNTT) chung trong dân chúng từ 5 tuổi trở lên (mẫu điều tra N= 1824) là 19,4% (95% CI : 17,5% - 21,2%). Trong đó, tỷ lệ RNTT ở  Bến Tre  14.3% (95% CI : 12,2% - 16.5%) - thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với Thanh Hóa: 26.1% (95% CI: 23,0% - 29,2%).
  • Riêng cho trẻ em 5-16 tuổi, tỷ lệ RNTT là 20,5% (95% CI : 15,7% - 25,.3%), trong đó, Bến Tre là 19.1% (95% CI: 12,9% - 25,4%),
  • Tỷ lệ RNTT ở người lớn (nhóm 17 tuổi trở lên; mẫu điều tra N= 1546) là 19.2% (95% CI : 17,2% - 21,1%). Trong đó, Thanh Hóa có tỷ lệ cao hơn rõ rêt (26,8%; 95% CI: 23,4% - 30,3%; P<0,001), so với Bến Tre (13,5%; 95%CI: 11,3% - 15,8%).


  1. 2. Khả năng phát hiện bệnh, điều trị bệnh và chăm sóc người bệnh còn nhiều hạn chế.

a) Khả năng phát hiện bệnh:

Điều tra ngẫu nhiên mẫu 620 hộ gia đình của hai tỉnh cho thấy, ở nhóm tuổi từ 17 trở lên, tỷ lệ bệnh nhân tâm thần được phát hiện bởi cộng đồng và ngành y tế chiếm 5,4%  (Thanh hóa: 4,0%; Bến tre: 7,4%). Như vậy, gần 95% số ca bệnh chưa không được bởi các cơ sở dịch vụ y tế công lập. Tỷ lệ này còn thấp hơn nữa nếu tính cả nhóm dân số dưới 17 tuổi.

Nếu xét với nhóm loạn thầnvà động kinh, tỷ lệ được cộng đồng và y tế phát hiện  cũng chỉ đạt 19,8% (Thanh hóa: 16,7%; Bến tre: 23,1%). Trong khi, còn tới 80% bệnh nhân thuộc nhóm hai bệnh này chưa được cộng đồng và y tế phát hiện. Từ đó, có thể kết luận rằng: khả năng phát hiện bệnh của toàn hệ thống hiện tại ở hai tỉnh này còn rất thấp.

b) Khả năng điều trị bệnh:

Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng (BVSKTTCĐ) do ngành y tế đảm trách chủ yếu quản lý và điều trị cho người bệnh tâm thần phân liệt và người bệnh động kinh. Nhưng ngay với các đối tượng này, điều tra ngẫu nhiên 620 hộ gia đình cho thấy chỉ có 50% số bênh nhân  tâm thần phân liệt và động kinh đã được phát hiện và tiếp cận được với các dịch vụ của dự án BVSKTTCĐ.

98,7% người bệnh tâm thần hiện đang sống tại cộng đồng, cùng với gia đình hoặc đang đi lang thang. Tỷ lệ tiếp cận và được chăm sóc tại các cơ sở y tế tập trung chỉ chiếm 1,3%.

c) Khả năng chăm sóc người bệnh tâm thần:

Hệ thống LĐTBXH đã thực hiện chế độ trợ cấp xã hội (phát thuốc và tiền trợ cấp hàng thàng) cho 95.8% số người bệnh tâm thần đã hoàn thiện hồ sơ.  (tại Thanh Hóa là 94.1% và tại Bến Tre là 97.8.%). Tuy nhiên,  vẫn còn  4.2% số người bệnh tâm thần phân liệt và người bị bệnh động kinh (tại Thanh Hóa là 2.2% và tại Bến Tre là 5.9% ) sau khi đã được chẩn đoán bệnh bởi ngành y tế vẫn chưa được nhận trợ cấp xã hội vì thiếu cơ chế liên kết giữa ngành LĐTBXH và ngành Y tế.

Tỷ lệ BNTT do ngành  LĐTBXH quản lý được so với tổng số người RNTT qua điều tra cộng đồng tại Bến Tre là 2.3% và Thanh Hóa là 2.1%.

Như vậy, cả  ngành Y tế và ngành LĐTBXH nói riêng và suy rộng ra là cả hệ thống nhà nước (vận hành với kinh phí từ ngân sách nhà nước) nói chung chỉ mới cung cấp dịch vụ cho khoảng 5% đối tượng bị rối nhiễu tâm trí và chủ yếu tập trung vào những trường hợp nặng. Với riêng hai bệnh  tâm thần phân liệt (TTPL) và động kinh, quản lý của dự án BVSKTTCĐ mới chỉ đạt 71.9% kế hoạch. Mà kế hoạch này, chỉ tập trung vào những trường hợp bị bệnh nặng. Các đối tượng bị bệnh tâm thần khác như lo âu, rối loạn hành vi, thiểu năng trí tuệ, tăng động... chưa được đưa vào dự án BVSKTTCĐ của Bộ y tế.  Như vậy, gần 95% người rối nhiễu tâm trí, 80% người bệnh tâm thần nằm ngoài diện bao phủ của dịch vụ chăm sóc BVSKTTCĐ của ngành y tế. Cho thấy vai trò của gia đình, cộng động vẫn là chính trong chăm sóc người  bệnh hiện nay ở hai tỉnh.


  1. 3. Chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần chủ yếu do ngành y tế quản lý, và một phần hỗ trợ an sinh xã hội ngành LĐTBXH thực hiện. Các cơ sở cung cấp dịch vụ CSSKTT chủ yếu chú trọng vào điều trị tập trung bằng thuốc và dự phòng cũng tập trung vào phát thuốc điều trị, các dịch vụ trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người bệnh còn rất hạn chế. Mức trợ cấp xã hội chưa bằng 1/4  mức lương tối thiểu cho người bệnh ở cộng đồng, và chỉ tương đương 1/2  mức lương tối thiểu cho bệnh nhân ở cơ sở chăm sóc tập trung. Các nguyên lý chă sóc phục hồi và đảm bảo quyền tối thiểu của bệnh nhân chưa được chú trọng trong quá trình thiết kế, vận hành và giám sát chất lượng phục vụ CSSKTTT. Ở cả hai tỉnh, đều không có dịch vụ chăm sóc lưu động tại cộng đồng để xử trí các trường hợp cấp cứu tâm thần.

Xét theo tiêu chuẩn của  tổ chức y tế thế giới (WHO), việc đánh giá chất lượng dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần tại cơ sở  có điều trị tập trung, được nhóm nghiên cứu căn cứ vào mức độ đảm bảo năm quyền cơ bản của bệnh nhân. Các cơ sở được khảo sát của cả y tế và LĐTBXH có đạt mức độ sơ khởi ở bốn khu vực: (1) Chất lượng môi trường sống, (2) sự đảm bảo điều kiện chăm sóc về sức khỏe và thể chất, (3) năng lực pháp luật và sự tự do cá nhân; (4) mối quan hệ giữa nhân viên và người bệnh. Riêng khu vực thứ năm (sống độc lập và tái hòa nhập cộng đồng), cả hai bệnh viện đều chưa có bất kỳ dịch vụ nào giúp bệnh nhân tiếp cận các quyền này, dù chỉ ở mức sơ khởi.

Ở các bệnh viện tâm thần tỉnh đã có sự đảm  bảo điều kiện cơ bản về chăm sóc sức khỏe thể chất, người bệnh không bị từ chối điều trị vì các lý do tài chính, tín ngưỡng, văn hóa, và luôn được chuyển gửi các cơ sở chuyên khoa khi cần thiết. Tuy nhiên, việc chăm sóc chủ yếu là dựa vào hóa dược trị liệu, mảng phục hồi chức năng và huy động nguồn lực xã hội hỗ trợ người bệnh còn bị “bỏ ngỏ”. Hoạt động khám sàng lọc các bệnh thường gặp, tư vấn sức khỏe sinh sản.. hoàn toàn thiếu vắng.  Người bệnh được đưa vào điều trị chủ yếu theo nguyện vọng của gia đình, không phải trên cơ sở mong muốn của người bệnh. Các quyền lợi hợp pháp của người bệnh tôn trọng như một người sử dụng dịch vụ y tế hoàn toàn không được xét tới trong các hoạt động điều trị.

Cơ sở chăm sóc tập trung của ngành LĐTBXH Thanh hóa đảm bảo tương đói tốt chất lượng môi trường sống, và tốt nhất trong số các cơ sở chăm sóc tập trung của hai tỉnh. Nhưng sự phát triển của cơ sở này hoàn toàn do sự năng động của lãnh đạo cơ sở, hơn là một sự thiết kế dựa trên khoa học chăm sóc sức khỏe người bệnh tâm thần. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ tại các cơ sở cung cấp dịch vụ CSSKTT ở Thanh Hóa và Bến Tre còn nhiều hạn chế, trong đó, cơ bản nhất là kiến thức cơ bản về dự phòng trong chăm sóc bệnh nhân tâm thần, nguyên lý và thực hành  chăm sóc phục hồi, quyền tối thiểu của người bệnh tâm thần tại các cơ sở chăm sóc y tế.. hoàn toàn chưa được đưa vào đào tọa và giám sát thực hiện.. Chỉ có 6,9% số cán bộ của BVTT tỉnh là bác sỹ chuyên khoa tâm thần, trong đó chỉ có 1 bác sỹ nội trú; BVTT tỉnh không có cán bộ có chuyên môn về công tác xã hội hoặc trị liệu tâm lý. 54% số cán bộ của BVTT không có chuyên môn chăm sóc sức khỏe tâm thần. Ngược lại, cơ sở trị liệu tập trung của bên LĐTBXH,về cơ bản thiếu vắng bác sĩ chuyên khoa tâm thần. Cần cơ cấu lại đội ngũ nhân viên chăm sóc sức khỏe tâm thần.  Nhưng bệnh viện tâm thần tỉnh chưa cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người bệnh sau điều trị, chưa có các dịch vụ khám sàng lọc sớm bệnh tâm thần tại cộng đồng

Trung tâm CTXH tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Bến Tre đã được thành lập và có cơ sở vật chất khá khang trang. Mục tiêu hoạt động của Trung tâm CTXH là cung cấp dịch vụ xã hội tới các đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó có những người RNTT.  Nhưng đến nay, trung tâm dịch vụ CTXH ở hai tỉnh này chưa cung cấp các dịch vụ CSSKTT vì không có cán bộ nào của Trung tâm CTXH có trình độ chuyên môn về sức khỏe tâm thần.


  1. 4. Truyền thông kiến thức về chăm sóc sức khỏe tâm thần

Chỉ có 0.42% hộ gia đình ở Thanh Hóa và 1.75% hộ gia đình ở Bến Tre có tài liệu về sức khỏe tâm thần. Chỉ có 12.32% số cán bộ y tế xã có tài liệu liên quan đến sức khỏe tâm thần. Trong số các tài liệu mà các cán bộ xã kể tên, chủ yếu là tờ rơi (32%), tranh ảnh 8%, báo (24%) sách, sổ tay (24%) và internet (12%).

98.9% số hộ gia đình không có các tài liệu liên quan đến sức khỏe tâm thần. (98.25% hộ gia đình ở Bến Tre và 99.59 ở Thanh Hóa). Chỉ có 0.42% hộ gia đình ở Thanh Hóa và 1.75% hộ gia đình ở Bến Tre có tài liệu về sức khỏe tâm thần. Các tài liệu mà các hộ gia đình đang có chủ yếu là tờ rơi, tranh ảnh, báo và sổ tay truyền thông về sức khỏe tâm thần.

  1. 5. Cấu trúc tổ chức hệ thống CSSKTT chưa hợp lý

Hệ thống dịch vụ CSSKTT bao gồm các cơ sở khám và chữa trị bệnh tâm thần do ngành y tế quản lý; các cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội, trị liệu tâm lý, chăm sóc và nuôi dưỡng đối tượng chính sách, trong đó có người bệnh tâm thần.

Hệ thống cung cấp dịch vụ CSSKTT được hình thành từ trung ương đến địa phương, nhưng BVTT chỉ tập trung tuyến trung ương và tuyến tỉnh. Các dịch vụ CSSKTT ở tuyến cơ sở chưa phát triển.

Hệ thống hiện tại hoàn toàn không đưa vào trong cấu trúc hệ thống y tế ngoài nhà nước, bao gồm dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần cung cấp bởi các cơ sở y tế tư nhân và tổ chức dân sự, phi lợi nhuận. Mảng chăm sóc tại cộng đồng bởi người dân hoàn toàn bị bỏ qua.

  1. 6. Tầm nhìn và định hướng phát triển dịch vụ CSSKTT:

Mặc dầu ở mỗi tỉnh, Sở LĐTBXH và Sở Y tế đã có kế hoạch triển khai các hoạt động CSSKTT. Nhưng chưa tỉnh nào có kế hoạch hoặc chiến lược phát triển hệ thống CSSKTT chung của tỉnh. Vì vậy, chưa có tầm nhìn và định hướng rõ ràng về đối tượng phục vụ và chiến lược phát triển dịch vụ CSSKTT.

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tham gia của gia đình của người bệnh tâm thần  trong việc tham vấn và quyết định các chính sách, kế hoạch và phát triển dịch vụ về sức khỏe tâm thần là hoàn toàn thiếu vắng.

Quan điểm về “chăm sóc dựa vào cộng đồng” không được hiểu đúng, và không có chiến lược cụ thể làm thế nào để phát huy nguồn lực hiện có, cải thiện được tỷ lệ bao phủ dịch vụ chăm sóc có chuyên môn và nâng chất lượng dịch vụ đảm bảo quyền tối thiểu của người bệnh tâm thần.

  1. 7. Cơ cấu tài chính dành cho công tác CSSKTT:

Việc thu thập thông tin về thu chi tài chính từ dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần hàng năm ở mỗi tỉnh gặp nhiều khó khăn, vì nguồn dữ liệu về các khoản thu chi của các cơ sở CSSKTT không được cập nhật đầy đủ và các cơ sở này cũng chưa thực sự muốn công khai, chia sẻ với nhóm nghiên cứu. Tuy nhiện, từ một số liệu thống kê thu được đã cho thấy: các cơ sở CSSKTT hiện nay hoạt động chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và sự đóng góp của người bệnh. Các khoản viện trợ nước ngoài cho CSSKTT chưa được các cơ sở thống kê đầy đủ. Để cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao cần có sự phân bổ ngân sách tương xứng với nhu cầu về nhân lực và các nhu cầu nguồn lực khác.

  1. 8. Năng lực chuyên môn của đội ngũ chăm sóc người bệnh tâm thần còn hạn chế.

59% số cán bộ lao động xã hội xã có trình độ đại học, 12,7% có trình độ cao đẳng và 2,1% có trình độ sơ cấp. Trong đó, cán bộ lao động xã hội xã có chuyên môn về CTXH chỉ chiếm 21,3%.

Số cán bộ Phòng LĐTBXH huyện có trình độ đại học chiếm tỷ lệ đa số (94%), nhưng số có chuyên môn về CTXH chỉ chiếm 0,9%. Điều này cho thấy tỷ lệ cán bộ CTXH trong các cơ quan LĐTBXH cấp huyện và cấp xã còn rất thấp.

Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về CSSKTT đã ít lại tập trung chủ yếu ở tuyến tỉnh (BVTT và Trung tâm BTXH). Cán bộ ở tuyến huyện và tuyến xã chưa được đào tạo về CTXH và CSSKTT.

Nghiên cứu cho thấy, các khái niêm cơ bản về sức khỏe tâm trí, bệnh tâm thần, nguyên lý cơ bản trong chăm sóc sức khỏe và chăm sóc người bệnh tâm thần... đều thiếu hụt ở đại đa số các đối tượng phỏng vấn và qua quan sát thực tế tại các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc bệnh nhân.


9. Dịch vụ chăm sóc ngoài Nhà nước chưa phát triển.

Chưa có tổ chức cộng đồng hoặc tổ chức từ thiện nào trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Bến Tre chuyên cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần. Chỉ có 02 tổ chức từ thiện có hỗ trợ không thường xuyên cho trẻ em khuyết tật, người nghèo, trong đó có cả người bệnh tâm thần; chất lượng dịch vụ của các cơ sở này chưa được đánh giá, nhưng chắc chắn không vượt qua được chất lượng chuyên môn hiện có ở khu vực công.

9.1. Cán bộ, nhân viên của các tổ chức ngoài công lập ở Thanh Hóa và Bến Tre chưa được đào các kỹ năng, nghiệp vụ về chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Đa số cán bộ, nhân viên của các tổ chức ngoài công lập ở Thanh Hóa và Bến Tre chưa được đào tạo chuyên môn CTXH và các nghiệp vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần.

9.2. Người bệnh còn phải sống trong điều kiện bẩn thỉu, mất vệ sinh.

Người bệnh tâm thần được chăm sóc khá tốt tại các hộ gia đình. Tỷ lệ người tâm thần có điều kiện ăn, mặc sạch sẽ đạt 87.6% - 95%. 83% người tâm thần được phép đi lại tự do trong nhà ngoài ngõ và 73.5% có thể tham gia việc tang lễ, cưới hỏi cùng gia đình. 44.5% người bệnh có phòng ngủ riêng. Tuy nhiên, vẫn còn 42.8% người bệnh còn phải sống trong điều kiện bẩn thỉu, mất vệ sinh.


9.3. Người bệnh tâm thần và gia đình họ bị phân biệt, kỳ thị tại cộng đồng.

Người bệnh tâm thần và người thân của họ phản ánh đã bị kỳ tại cộng đồng. Theo cảm nhận của chủ hộ gia đình, 18.3% người thân của gia đình họ bị kỳ thị vì mắc bệnh tâm thần, trong đó 5.2% bị kỳ thị thường xuyên; 18.4% chủ hộ cho rằng bản thân họ cũng bị kỳ thị vì có người thân bị bệnh tâm thần. Trong số những gia đình bị kỳ thị, 21.5% cho rằng việc bị kỳ thị có ảnh hưởng đến mối quan hệ của họ với bạn bè cũ/mới và 38.5% thấy việc kỳ thị có ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình họ.


II. KẾT LUẬN

Dưới đây là 5 kết luận chính của nhóm nghiên cứu về hệ thống CSSKTT tại Thanh Hóa và Bến Tre:

Không có thiết kế với tầm nhìn có được một hệ thống chăm sóc dự phòng kết hợp điều trị phục hồi, vận hành theo nguyên lý bảo đảm 5 quyền  cơ bản cuả người bệnh tâm thần

Mặc dầu Nhà nước đã quan tâm đầu tư ngân sách để phát triển hệ thống CSSKTT, nhưng do công tác lập kế hoạch không được hỗ trợ bởi các bằng chứng đến từ các nghiên cứu cộng đồng đạt yêu cầu chất lượng khoa học, nên các kế hoạch lập ra rơi vào tình trạng rất xa vời so với nhu cầu thực tế. Các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của đề án 1215 cùng các dự án đã có liên quan đến chăm sóc người bệnh tâm thần phải được xác định lại, xuất phát từ việc xác định cho đúng đối tượng đích và gánh nặng thực tế có trong cộng đồng, và việc đánh giá năng lực của hệ thống dịch vụ công chưa chính xác. Hậu quả của cách thức quản lý và lập kế hoạch không dựa trên bằng chứng nghiên cứu khách quan, đã dẫn đến phần lớn các nguồn lực của Nhà nước chủ yếu đầu tư vào xây dựng cơ sở vật chất, không tập trung vào nâng cao chất lượng lập kế hoạch và theo dõi, hỗ trợ, giám sát quản lý chất lượng dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần. Đổi mới cả về cấu trúc và chức năng của hệ thống CSSKTT của tinh là bắt buộc, căn cứ vào bằng chứng nghiên cứu thu được từ điều tra này.

Hệ thống hiện tại chủ yếu phát hiện bệnh khi đã ở giai đoạn bệnh toàn phát diễn biến kéo dài, điều trị chủ yếu dùng thuốc, thiếu sự kết nối giữa y tế-công tác xã hội-cộng đồng.

Hệ thống CSSKTT hiện nay đang nặng về điều trị bằng thuốc, rất ít dịch vụ trị liệu tâm lý, phục hồi chức năng hoặc trợ giúp xã hội được cung cấp bởi nhân viên CTXH chuyên nghiệp và cán bộ tâm lý lâm sàng. Điều này thể hiện ở chỗ, các dịch vụ CSSKTT hiện nay mới chỉ tập trung điều trị cho các đối tượng đã bị các rối loạn tâm thần nặng (như tâm thần phân liệt, động kinh, trầm cảm…). Thiếu các dịch vụ khám sàng lọc và chăm sóc SKTT cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao nói riêng (như phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ, người già, và thanh thiếu niên, trẻ mồ côi) và cho người dân nói chung.

Nguồn nhân lực hiện có chất lượng chuyên môn thấp, đặc biệt cho mảng chăm sóc tâm lý-xã hội, can thiệp không dung thuốc, ở ngay chính các cơ sở chăm sóc tập trung, và hiện chiến lược giải quyết không thực tế vì chưa xác định được chuẩn thực hành trên toàn hệ thống

Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định tới chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần. Tuy nhiên, nguồn nhân lực hiện có tại các cơ sở CSSKTT ở Thanhh Hóa và Bến Tre đang thiếu cả về số lượng và yếu về chất lượng. Phần đông cán bộ, nhân viên của các cơ sở cung cấp dịch vụ CSSKTT chưa được đào tạo kiến thức cơ bản về nhận biết người rối nhiễu tâm trí, bệnh tâm thần, kiến thức và thưc hành dự phòng rối nhiễu tâm trí và chống kỳ thị, nguyên lý và thực hành điều trị phục hồi, và chăm sóc dựa trên nguyên tắc dảm bảo quyền cơ bản dành cho nguời bệnh tâm thần.. Nhất thiết phải đào tạo lại kết hợp với đào tạo bổ xung để đảm bảo toàn hệ thống có được nguồn nhân lực với kiến thức cơ bản về chăm sóc dự phòng, RNTT, chăm sóc phục hồi xuất phát từ cộng đồng, và đảm bảo quyền người bệnh cả ở cơ sở chăm sóc tập trung và tại cộng đồng.

Phát hiện bệnh, chăm sóc người bệnh tuyệt đại đa số được thực hiện bởi gia đình và hoạt động chăm sóc cộng đồng phụ thuộc vào sự hiểu biết tự thân và vốn quan hệ xã hội của người dân.

Có thể nói, hệ thống CSSKTT của nhà nước chỉ phục vụ cho đối tượng nặng, và chiếm không quá 5% gánh nặng bệnh tâm thần trong cộng đồng. Tỷ lệ trên 80% người bệnh tâm thần, và trên 95% người rối nhiễu tâm trí hiện sống, sinh hoạt và chăm sóc bởi chính cộng đồng. Do vậy, tập trung cung ccấp kiến thức và thực hành cơ bản về phát hiện sớm, phòng chống rối nhiễu tâm trí, chăm sóc trị liệu không dung thuốc tại tuyến cộng đồng, chăm sóc toàn diện bởi gia đình và tự chăm sóc... là chiến lượng thực tế nâng chất lượng chăm sóc SKTT hiện nay ở hai tỉnh. Hệ thống CSSKTT cần được cấu trúc lại theo hướng đưa mảng chăm sóc cộng đồng phi dịch vụ (gồm tự chăm sóc, chăm sóc bởi gia đình và các chăm sóc phi lợi nhuận) tích hợp vào hệ thống CSSKTT phải được xem là chiến lược trong thời gian tới.

Hệ thống dịch vụ ngoài nhà nước, bao gồm dịch vụ tư nhân, dich vụ cung cấp bởi các tổ chức xã hội dân sự, về cơ bản là thiếu trầm trọng

Các dịch vụ tự chăm sóc SKTT tại gia đình và dịch vụ chăm sóc SKTT tại cộng đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tuy nhiên các dịch vụ CSSKTT chưa được phát triển mạnh mẻ ở Thanh Hóa và Bến Tre. Những người chăm sóc người bệnh tâm thần thiếu kiến thức, kỹ năng về chăm sóc bệnh nhân tâm thần. Trong khi đó, chưa có tổ chức cộng đồng (tổ chức từ thiện, tổ chức xã hội) và cơ sở  tư nhân nào cung cấp dịch vụ CSSKTT chuyên nghiệp.


III. KHUYẾN CÁO


Nhóm nghiên cứu đưa ra các khuyến cáo dưới dây:


a)  Đối với các cơ quan thực hiện Đề án 1215 ở trung ương:

1. Cần thống nhất các thuật ngữ chuyên ngành đã được sử dụng trong Đề án 1215:

Để “Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng” được triển khai có hiệu quả, theo đúng tên gọi của nó, phải bắt đầu từ việc xác định đúng nội hàm của các thuật ngữ chuyên ngành:“trợ giúp xã hội”,“phục hồi chức năng”, “bệnh tâm thần” và “rối nhiễu tâm trí”,  và thế nào là “dựa vào cộng đồng” theo quy định của Đề án 1215 và theo khuyến cáo của WHO.

2. Cần cấu trúc lại hệ thống CSSKTT nhằm đáp ứng nhu cầu “trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng” ngày càng cao của người dân.

Bộ LĐTBXH – cơ quan quản lý Đề án 1215 cần rà soát và đánh giá lại những ai đang tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần, những ai đang chăm sóc người rối nhiễu tâm trí, vai trò cụ thể của họ trên thực tế đến đâu và hiệu quả thế nào. Nghiên cứu này đã chỉ rõ sự hạn chế và đóng góp hết sức tối thiểu của hệ thống y tế cũng như hệ thống LĐTBXH trong chăm sóc người bệnh tâm thần. Phần lớn hoạt động chăm sóc người bệnh đang nằm ngoài độ bao phủ của hệ thống dịch vụ công hiện tại. Cần chú trọng cách tiếp cận“dựa vào cộng đồng” và chăm sóc sức khỏe toàn diện theo như khuyến cáo của WHO, bắt đầu bằng việc lập kế hoạch phải được căn cứ trên các bằng chứng nghiên cứu cộng đồng được triển khai một cách khoa học. Mở rộng phạm vi bao phủ và nâng cao chất lượng dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần và người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng, hạn chế việc lạm dụng thuốc và điều trị cách ly như hiện nay.

3. Cần xác định lại mục tiêu của Đề án 1215 cho rõ ràng và phù hợp hơn.

Nghiên cứu này chỉ ra rằng gánh nặng bệnh tâm thần khá cao,đưa lại nhu cầu chăm sóc người bệnh là rất lớn. Độ bao phủ dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần và người RNTT của hệ thống nhà nước rất thấp. Do đó, sẽ rất khó có thể đạt được các mục tiêu quá cao mà Đề án 1215 đã đề ra . Các cơ quan quản lý Đề án 1215 ở trung ương và địa phương cần dựa trên các kết quả của nghiên cứu này để xác định các chỉ số đầu vào và điều chỉnh lại mục tiêu và chỉ tiêu của Đề án 1215 tại mỗi tỉnh cho cụ thể, khả thi và có thể đo lường được.

4. Cần tăng cường năng lực và sự tham gia của mạng lưới các tổ chức xã hội dân sự và gia đình của người bệnh tâm thần trong CSSKTT.

Để xây dựng mô hình CSSKTT dựa vào cộng đồng rất cần sự tham gia của các tổ chức cộng đồng, tổ chức dân sự. Sự tham gia của các tổ chức dân sự hiện có (tổ chức từ thiện, tổ chức cộng đồng và các đoàn thể xã hội) ở Thanh Hóa và Bến Tre trong cung cấp dịch vụ CSSKTT còn rất thấp, hầu như chưa cung cấp dịch vụ CSSKTT gì đáng kể. Dó đó, cần nâng cao nhận thức của xã hội về sức khỏe tâm thần nói chung, về tầm quan trọng của “tự chăm sóc” và về vai trò của gia đình và tổ chức xã hội dân sự trong CSSKTT. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để các tổ chức dân sự có thể đào tạo hoặc thu hút các cán bộ có chuyên môn về CTXH, về sức khỏe tâm thần, và về tâm lý lâm sàng để cung cấp các dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp tới người dân.

5. Tăng cường công tác theo dõi và đánh giá Đề án 1215

Theo dõi, giám sát và đánh giá là một trong những khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình quản lý. Tuy nhiên, hệ thống theo dõi, đánh giá chất lượng dịch vụ CSSKTT ở tỉnh Thanh Hóa và Bến Tre còn nhiều hạn chế. Thông tin không được theo dõi, thu thập đầy đủ; dữ liệu không được cập nhật, lưu trữ một cách khoa học nên thiếu các thông tin xác thực để đưa ra các quyết định đúng đắn nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ. Do vậy, cần nâng cao năng lực theo dõi, giám sát và đánh giá cho hệ thống các cơ sở CSSKTT. Bộ số liệu điều tra lần này cần được sử dụng để đưa lại bộ chỉ số đầu kỳ phục vụ lập kế hoạch, giám sát, đánh giá sự tiến độ đạt được của bất kỳ can thiệp nào vào hệ thống CSSKTT của tỉnh trong thời gian tới.



b) Đối với các cơ quan thực hiện Đề án 1215 tuyến tỉnh.

6. Cần chuyển trọng tâm từ chỗ  khám và chữa bệnh tâm thần một cách bị động như hiện nay sang “chủ động phòng RNTT” và tăng cường các hoạt động tư vấn, khám sàng lọc và chăm sóc sức khỏe toàn diện.

Cơ chế chính sách đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển dịch vụ CSSKTT. Trong bối cảnh nỗ lực nhằm nâng cao sức khỏe tâm thần cho nhân dân, điều quan trọng là không chỉ đáp ứng nhu cầu của những người đã được chẩn đoán bị tâm thần, mà còn bảo vệ và nâng cao sức khỏe tâm thần cho những có nguyên cơ cao, người chưa bị bệnh và toàn dân. Hiện nay, hệ thống chính sách và cơ chế quản lý dịch vụ CSSKTT ở Thanh Hóa và Bến Tre còn dàn trãi, thiếu đồng bộ và chưa có cơ chế phối hợp liên ngành trong lĩnh vực CSSKTT.  Cần có chính sách phát triển dịch vụ CSSKTT toàn diện, đa ngành và hướng tới phòng bệnh, sàng lọc, chuẩn đoán và phát hiện bệnh sớm từ tuyến ban đầu. Có chính sách khuyến khích sự tham gia của các cơ sở y tế tư nhân, các hội từ thiện và các tổ chức xã hội trong cung cấp dịch vụ CSSKTT.

7. UBND tỉnh cần xây dựng chiến lược và kế hoạch triển khai đồng bộ các hoạt động của đề án 1215, xác định rõ mục tiêu, đối tượng phục vụ, các nguồn lực và chính sách phát triển nhân lực trong lĩnh vực CSSKTT.

Sở Y tế và Sở LĐTBXH tỉnh cần sớm  phối hợp xây dựng kế hoạch triển khai đồng bộ, từ xây dựng chiến lược, xác định mục tiêu, hoạt động, kinh phí và chính sách đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực cho các cơ sở CSSKTT. Củng cố đội ngũ cán bộ có chuyên môn về CSSKTT để cung cấp dịch vụ dự phòng, sàng lọc, chuẩn đoán và điều trị sớm các rối nhiễu tâm trí và phục hồi chức năng ngay ở tuyến cơ sở. UBND tỉnh cần triển khai đồng bộ và huy động nguồn lực từ Đề án Phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 (Đề án 32) và Đề án khuyến khích phát triển nguồn nhân lực y tế các chuyên ngành lao, phong, tâm thần, pháp y và giải phẫu bệnh 2013-2020 (Đề án 319) để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CSSKTT ở các cơ sở.

8. Bệnh viện tâm thần tỉnh tăng cường các hoạt động đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, kỹ thuật  chuyên ngành tâm thần cho cán bộ, nhân viên của các cơ sở CSSKTT.

BVTT cần tổ chức nghiên cứu và phổ biến các kiến thức khoa học về lĩnh vực tâm thần để phục vụ khám chữa bệnh, phòng bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần và người RNTT đạt hiệu quả. Cần đẩy mạnh công tác hỗ trợ kỹ thuật chuyên khoa tâm thần nhằm cũng cố và phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ CSSKTT trên địa bàn tỉnh. BVTT tỉnh cần phối hợp với các cơ quan trong và ngoài ngành y tế để thực hiện truyền thông và giáo dục sức khoẻ tâm thần và phòng chống bệnh tâm thần, RNTT trong cộng đồng.

9. Phát triển đa dạng các dịch vụ trợ giúp xã hội cho người rối nhiễu tâm trí, và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần.

Theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 67/2007/NĐ-CP   thì đối tượng TBXH là “Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm.”.  Quy định như vậy là chưa phù hợp.

Trung tâm CTXH và Trung tâm BTXH cần trang bị kiến thức, kỹ năng CTXH và CSSKTT cho đội ngũ cán bộ và nhân viên đang làm việc với các nhóm yếu thế, để kịp thời phát hiện và giúp đỡ các đối tượng có nguy cơ cao hoặc những người bị RNTT phòng và chữa bệnh có hiệu quả; cung cấp các dịch vụ phục hồi chức năng cho người bệnh tâm và nuôi dưỡng các đối tượng tâm thần nặng không có nơi nương tựa.

Trung tâm CTXH cần được cơ cấu lại theo hướng chuyên nghiệp hóa các phòng ban chuyên môn, trong đó cần có phòng tư vấn, trợ giúp xã hội và trị liệu tâm lý cho các đối tượng có nguy cao bị RNTT và phục hồi chức năng cho bệnh tâm thần hòa nhập cộng đồng.


10. Cần cấu trúc lại Trung tâm BTXH người bệnh tâm thần tỉnh theo hướng sinh thái, hòa nhập cộng đồng và tôn trọng quyền của người bệnh tâm thần.

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng việc nuôi dưỡng, chăm sóc người bệnh tâm thần ở  Trung tâm BTXH người bệnh tâm thần tỉnh hiện nay chưa đáp ứng các yêu cầu về chất lượng dịch vụ và chưa đãm bảo các quyền của người bệnh. Cán cán bộ của Trung tâm BTXH người bệnh tâm thần tỉnh cần được trang bị các kiến thức, kỹ năng CTXH, trong đó chú trọng đến kỹ năng trợ giúp xã hội, tham vấn và trị liệu tâm lý và chăm sóc người bệnh theo đúng các khuyến cáo của WHO.


11. Chính quyền địa phương các cấp cần huy động sự tham gia của các tổ chức cộng đồng và gia đình của người bệnh tâm thần vào quá trình lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động Đề án 1215.

Cần tăng cường sự tham gia của các tổ chức của những người có rối loạn tâm thần và gia đình họ trong quá trình ra quyết định để có thể giúp tạo ra những chính sách công bằng, hiệu quả hơn. Do đó, việc mời các bên liên quan tham gia trong việc xây dựng và thực hiện chính sách pháp luật và triển khai các dịch vụ liên quan đến sức khỏe tâm thần thông qua một cấu trúc đa ngành hoặc một cơ chế toàn diện chính thức là rất quan trọng.


C) Đối với các cơ quan, tổ chức thực hiện các dự án bảo vệ, chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng.

11. Tăng cường giám sát, đánh giá tiến độ và chất lượng xây dựng mô hình điểm của Đề án 1215 tại tỉnh Thanh Hóa và Bến Tre.

Các chỉ số giám sát, đánh giá nhất thiết phải dựa trên những bằng chứng khoa học và dựa vào nhu cầu thực tế của người dân. Các phát hiện từ cuộc đánh giá ban đầu là cơ sở để phân tích, khả năng cung cấp dịch vụ của hệ thống CSSKTT hiện có, những mặt còn tồn tại và nhu cầu sử dụng dịch vụ CSSKTT của người dân. Tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Bến Tre có thể sử dụng số liệu từ nghiên cứu này làm chỉ số đầu vào cho việc giám sát, đánh giá hoạt động dự án 21436.

12. Huy động sự  hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và cộng đồng trong CSSKTT.

Các tổ chức quốc tế cần quan tâm giúp đỡ tỉnh Thanh Hóa và Bến Tre xây dựng thành công mô hình CSSKTT để làm cơ sở nhân rộng ra các nước. Tổ chức Atlantic Philanthropies, VVAF, UNICEF, GCC và một số nguồn tài trợ khác về chăm sóc SKTT tại Thanh Hóa và Bến Tre nói riêng và ở Việt Nam nói chung có thể sử dụng kết quả nghiên cứu này làm cơ sở cho việc xây dựng dự án hoặc tăng cường hoạt động giám sát, đánh giá tác động của dự án CSSKTT đang và sẽ triển khai thực hiện trong thời gian tới. Nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế sẽ phát huy hiệu quả cao hơn nếu hỗ trợ trực tiếp cho việc cải tổ hệ thống dịch vụ, đào tạo nhân lực, tăng cường sự tham gia của nhân dân và phát huy vai trò trợ giúp xã hội từ các tổ chức cộng đồng, tổ chức dân sự và thành phần tư nhân ở địa phương.

13. Tăng cường hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng phòng bệnh tâm thần và rối nhiễu tâm trí.

Các cơ quan truyền thông và các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự cần tích cực tham gia tuyên truyền, giáo dục về sức khỏe tâm trí, phòng bệnh tâm thần cho người dân. Trước hết, các cán bộ y tế xã và những người trực tiếp chăm sóc người bệnh tâm thần cần được trang bị các tờ rơi, sách hướng dẫn và tài liệu về chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng. Công tác truyền thông về chăm sóc sức khỏe tâm thần cần được triển khai qua cán bộ của các tổ chức xã hội và nhân viên các nhà thuốc vì họ là người có thể tiếp xúc với những người có có nhu cầu về CSSKTT ở cộng đồng.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 11 Tháng 4 2017 21:17  

IFP Alumna Login


Bảng quảng cáo